...
 

Wednesday, 4 November 2009

Điệu múa của người Lô Lô



Lô Lô là tên một dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc. Ở Trung Quốc, dân tộc Lô Lô có khoảng 7 triệu người, tập trung ở phía nam và được biết đến với cái tên là dân tộc Di.

"Điệu múa của người Lô Lô" là tên một tác phẩm khí nhạc viết cho đàn tỳ bà của nhạc sĩ Wang Hui-Ran. Tác phẩm này được Wang Hui-Ran phát triển từ một làn điệu dân ca truyền thống của người Di. Sau đó người ta đã đặt lời cho bản nhạc và làm nó trở nên nổi tiếng dưới tên gọi "999 đoá hồng".

Tôi biết "999 đoá hồng" có phần nhạc lấy từ "Điệu múa của người Lô Lô" khi nghe một CD của nữ nghệ sĩ guitar Yang Xue-Fei. Thực ra là tí nữa thì tôi đã bỏ qua bản nhạc này vì phần đầu của nó nghe rất nhàm, chỉ đến đoạn điệp khúc thì mới trở nên hấp dẫn, và cũng nhờ đoạn này mà tôi nhận ra giai điệu quen thuộc của bài "999 đoá hồng".

Hồi học cấp 2, khi nghe "999 đoá hồng", tôi cứ thắc mắc mãi về con số 999. Một phần cũng là vì trong ca khúc lời Việt chẳng có chỗ nào nhắc tới con số này. Lớn hơn một chút thì tôi nghĩ tới biểu tượng tính không trọn vẹn [của một tình yêu] thông qua con số 999. Chỉ thiếu một đoá hoa, chỉ chậm một buớc chân, chỉ vì một câu nói hay chỉ vì một cái gì mà tình yêu của họ trở nên lỡ làng và hai người không thành đôi? Ai mà biết được. Vậy tại sao không phải là 9, 99 hay 9999? 9 hay 99 thì quá ít cho một vườn hoa hồng của tình yêu, còn 9999 thì quá nhiều. 999 là vừa đẹp.

Nghe một số phiên bản "Điệu múa của người Lô Lô" ở đây. Còn dưới đây là "999 đoá hồng" lời Hoa (có phụ đề tiếng Anh):


Tôi dịch lời gốc tiếng Hoa của "999 đoá hồng" từ bản dịch nghĩa bằng tiếng Anh, hy vọng là không làm sai lệch nhiều so với nguyên tác:


999 ROSES


The past is like the wind
Infatuation is only hard to understand
Using wine to escape
But I can't escape the mist by my side
The candlelight throws shadows
But it can't show your face
Still, I only see you alone in that photo

The night wind is already cold
Memories of the past seem like dreams
My heart seems frozen
How can I endure knowing you but not meeting you?
I can't bear heartache
I can't bear that love is already like the wind
I can't bear that I've let you have your way with my heart

Long ago, I planted for you
Nine hundred ninety-nine roses
From the day we broke up
Nine hundred ninety-nine roses
When the flowers withered, I'm haggard
Millions of oaths are already extinguished with the flowers
&&&&& 999 ĐOÁ HỒNG
Kazenka dịch

Quá khứ tựa cơn gió,
và sự say mê là điều duy nhất khó mà thấu hiểu được
Anh từng mượn rượu để trốn chạy,
nhưng không sao thoát khỏi màn sương che phủ bên mình
Ánh nến toả bóng mờ,
nhưng nó chẳng thể nào soi tỏ khuôn mặt em
Bởi vì vẫn chỉ có em đứng lẻ loi trong bức ảnh kia mà thôi

Cơn gió đêm thật lạnh,
hồi ức như những giấc mơ
Trái tim anh dường như trở nên băng giá
Làm sao anh có thể biết em rồi mà lại không gặp được em nữa?
Anh không cam chịu nỗi đau này
Anh không muốn tin rằng tình yêu chỉ như cơn gió
Anh không muốn tin rằng đã để em mang theo trái tim mình ra đi

Đã từ lâu, anh trồng một khu vườn
có 999 đoá hồng, dành tặng cho em
Từ ngày chúng mình chia tay
999 đoá hồng
Và khi những đoá hồng héo úa thì cũng là lúc có một chàng trai trở nên tiều tuỵ
Ngàn vạn lời thề xưa cũng tàn phai theo những cánh hoa...


Sunday, 1 November 2009

Sài Gòn tháng 11

Buổi sáng đi trên đường Hùng Vương đoạn gần Nguyễn Tri Phương, một chiếc lá dầu vàng rơi trúng vai tôi, giật mình, tôi nhận ra là sau cùng tháng 11 cũng đã tới. Tôi yêu tháng 11 ở thành phố quê tôi và cả ở thành phố này.

Những cánh lá điệp, lá lim xẹt, lá me nhỏ li ti bay lả tả trong gió sáng nay. Trong những tia nắng đầu tiên của tháng 11 đã có thêm sự ấm áp hanh khô, khác với sự dịu nhẹ trong nắng của buổi sáng hôm qua. Điều này cũng có nghĩa là tiết trời se lạnh đang đến rất gần thành phố.

Có lẽ từ tháng 10 năm ngoái, tôi mới bắt đầu cảm thấy thực sự hoà hợp với Sài Gòn. Hoà hợp với cái gì đấy, là khi bạn không chỉ nắm rõ và thấu hiểu từng chuyển động của nó, mà bạn còn cảm nhận rất rõ rằng bạn đang chuyển động cùng nó và bạn là một phần của chuyển động đó.

Cả tháng qua, cứ mỗi ngày thứ 7 hay Chủ nhật, tôi đều dành nửa buổi sáng để đi lang thang quanh Sài Gòn. Có hôm thì quận 5, có hôm quận 7, quận 8, quận 10 hay như hôm nay là quận 4. Có những con đường tôi đã đi qua, có những con hẻm tôi đã ghé vào và cũng có những nơi mà trước đó tôi chưa bao giờ đặt chân đến. Tất cả đều gần gũi, thân thuộc. Tất cả đều hấp dẫn ánh mắt của tôi và làm tôi mỉm cười. Nơi này đã trở thành nhà tôi.


Sài Gòn bây giờ trông như một công trình lớn sắp được thi công xong. "Sắp" ở đây có nghĩa là tầm vài năm nữa. Đường Nguyễn Văn Trỗi đã thông thoáng hơn xưa nhưng tôi chưa thấy đường phố nào ở Sài Gòn gập ghềnh hơn nó. Vết tích điển hình cho sự chắp vá và vô tổ chức của cơ sở hạ tầng giao thông trong thành phố, của hết những lần cơi nới sửa chữa, đào lên lấp xuống rồi đến những lô cốt ám ảnh dân Sài Gòn.

Tôi thích nhất đi trên đường Trần Hưng Đạo đoạn nối quận 5 với quận 1. Đi trên con đường chính rộng rãi và khá bằng phẳng, bên cạnh con đường phụ được ngăn cách với đường chính hàng cây cao vút, tôi luôn cảm thấy thư thái vì sự thông thoáng, mát mẻ và khoảng cách với nhà cửa bên đường. Từ Trần Hưng Đạo rồi rẽ vào Lê Lợi, Hàm Nghi, hay khu cầu Ông Lãnh, tôi bắt gặp vẻ cổ kính của những toà nhà, những ban công có từ thời Pháp, vẻ cũ kỹ của những chung cư có từ trước 1975 và vẻ nhộn nhịp ở những khu dân cư chợ búa ven rạch Bến Nghé... Sự kết hợp giữa chúng khơi gợi cho tôi một cảm giác về một cái gì đó thuộc về bản sắc của Sài Gòn.

Trong cái cảm giác ấy của tôi, có cảm giác về kênh rạch. Khó mà hình dung ra Sài Gòn sẽ khô khan thế nào khi đã không có hồ mà lại thiếu vắng những dòng kênh, con rạch và những cây cầu. Không đâu ở Việt Nam lại nhiều cầu như ở Sài Gòn. Chỉ cần đi dọc đại lộ Đông Tây, từ Bến Chương Dương, qua Hàm Tử rồi thẳng tiến Trần Văn Kiều, tôi đã thấy không biết bao nhiêu là cầu. Cầu ngang, cầu dọc, cầu nối xuyên quận rồi cầu nối từ quận này sang quận khác. Tiếc rằng đi trên những cây cầu ấy, nhìn xuống thì chỉ thấy một màu đen ngòm. Sài Gòn lẽ ra đã đẹp và thơ mộng hơn hiện tại rất nhiều.

Sunday, 25 October 2009

Ngủ trưa

Có những buổi trưa mà tôi chẳng muốn ngủ tí nào (dù đa số là ngược lại). Cũng tại vì buổi trưa hôm nay bình yên quá mức. Người ta bảo rượu vào lời ra nhưng mà tôi thấy rượu vào tôi rồi mà lời tôi chẳng ra được mấy. Cafe luôn khiến tôi kích động, còn rượu thì chỉ làm tôi thêm trầm lặng.

Tôi ra ngoài hành lang đứng ngắm đất trời. Một bên xám, một bên xanh lung linh nắng. Hoá ra đất trời nhiều lúc còn chập cheng hơn cả tôi. Cô em gái cậu bạn đi xuống cầu thang nhìn tôi mỉm cười. Tôi cảm thấy rất bình thường.

Thành phố đã đi ngủ trưa

Tôi rất thích câu hát này. Tôi thích những thành phố biết ngủ trưa như thành phố quê tôi. Sài Gòn chẳng biết ngủ trưa, chỉ lim dim ngủ thôi, thậm chí chẳng thèm ngủ (thằng hàng xóm bật nhạc trẻ giữa buổi trưa). Tôi thấy ngủ tối giống với trạng thái "Turn off" của máy tính, còn "Suspend" là dành cho ngủ trưa. Tôi thích sự vắng lặng của buổi trưa ở các thành phố. Thành phố mới đây còn đông nghẹt người, vậy mà bây giờ người bỏ đi đâu hết cả rồi. Tưởng như chỉ còn lại tôi với những con đường, những ngôi nhà và những hàng cây. Tôi thích ngắm nhìn sự trì hoãn của thành phố.

Có người hôm nọ bảo tôi viết sai ca từ rồi, "Thành phố đã đi ngủ chưa?" mới đúng. Tôi thấy câu hỏi kiểu này cũng dễ thương đấy, nhưng tôi không nghĩ Trịnh Công Sơn bước qua một thành phố lạ trong đêm rồi lại đi hỏi thành phố ấy đã đi ngủ chưa. Tôi cảm thấy ông ấy khi đứng trong buổi trưa giữa thành phố lạ bỗng cảm thấy yên bình đến nghẹt thở và tuyệt vọng rồi thốt lên nhẹ nhàng "Thành phố đã đi ngủ trưa".

Friday, 23 October 2009

Thành Nam



Tôi có thể điền vào mỗi con đường, mỗi khu vực trên tấm bản đồ này ít nhất một kỷ niệm. Tôi có quá nhiều ký ức với thành phố này. Nhiều đến mức tôi không muốn nói gì về nó nữa.

Thursday, 22 October 2009

Bài Hoa

Blogger Trương Duy Nhất đặt vấn đề bài Hoa cực đoan. Vấn đề này nếu mà bàn sâu vào thì cũng có những điều lắt léo.

Khi chính quyền Trung Quốc có những hành động làm tổn hại đến lợi ích và nhân mạng của nhân dân Việt Nam, thì đối tượng công kích của nhân dân Việt Nam là chính quyền Trung Quốc, chứ không phải là nhân dân nước Trung Quốc (rộng hơn là người Hoa). Logic đơn giản ban đầu là như vậy. Thế nhưng liệu nhân dân Trung Quốc có hoàn toàn vô can trước những hành động của chính quyền Trung Quốc?

Nếu chính quyền Trung Quốc thực sự là chính quyền của nhân dân Trung Quốc hay nói theo khái niệm trên Wikipedia về dân chủ "nhân dân là nguồn gốc của quyền lực thông qua một hệ thống bầu cử tự do", thì người Việt Nam có quyền đòi hỏi trách nhiệm (và có thể là công kích) nhiều hơn đối với nhân dân Trung Quốc bởi những hành động của chính quyền nước họ. Thế nhưng thực tế là cũng như ở Việt Nam, hệ thống bầu cử ở Trung Quốc là không tự do, mang nặng tính hình thức và áp đặt từ trên xuống. Trong một chế độ chính trị như vậy, nhiều khi nhân dân không có quyền quyết định xem một chính sách ngoại giao nào đó của chính quyền là nên hay không nên thực hiện.

Nhưng "nhân dân nào thì chính quyền đó", rõ ràng là không thể có chuyện nhân dân Trung Quốc "hoàn toàn vô can". Vậy thì nhân dân Trung Quốc phải chịu trách nhiệm ở mức độ nào bởi hành động của "chính quyền của họ"? Ở đây còn chưa nhắc tới các vấn đề rắc rối như lịch sử, bản sắc dân tộc... mà tôi đã cảm thấy rất khó khăn khi lựa chọn một thái độ dành cho người Trung Quốc trước những gì mà chính quyền nước họ hành xử với Việt Nam.

Saturday, 17 October 2009

Những ngày xám trời

Cũng lâu lâu rồi tôi mới gặp một ngày cuối tuần trời xám. Giờ đang là tháng 10. Ký ức cộng dồn đọng lại trong tôi về những tháng 10 ở Sài Gòn là những ngày xám trời, những lần rong ruổi trên phố và những cơn mưa chiều. Chiều nay tôi ngồi trong căn phòng tối, chẳng muốn đi đâu. Âm thanh cello trầm ấm quyện vào thứ ánh sáng âm u mang đến cho tôi sự yên bình.

Tôi thường đi lang thang để rồi sau đó gặp gỡ và trò chuyện với bạn của mình trong những ngày như thế này, bởi vì tôi cảm thấy cô độc dưới bầu trời xám. Cảm giác ấy có lẽ bắt nguồn từ hình dung của tôi về thuở hồng hoang. Đó là thời kỳ mà thế giới mới được hình thành, mặt đất trơ trụi, đại dương mênh mông, còn trên trời mịt mù mây xám. Và con người (lúc ấy chỉ có một) chơ vơ giữa thế giới. Có hay không những ký ức di truyền? Nếu có thì nỗi cô độc hẳn là ký ức được di truyền từ xa xưa và bền lâu nhất của con người.

Monday, 5 October 2009

Quê hương

Tiếp theo sông, biển, mùa thu, ở bài này tôi xin giới thiệu tiếp một vài tác phẩm khí nhạc Việt Nam (trong nước & hải ngoại) viết về chủ đề quê hương.

Thực ra chủ đề quê hương là một chủ đề rất rộng. Khi bạn nói về mùa thu, về biển, về tình yêu... thì cũng chính là bạn đang nói về quê hương. Vì vậy quê hương ở đây trước tiên là nói về nỗi nhớ quê hương. Trong Playlist này, tôi có tập hợp một số tác phẩm có chủ đề như vậy, như "Trở về đất mẹ" của Nguyễn Văn Thương, "Quê hương" của Lưu Cầu, "Miền Nam quê hương ta ơi" của Huy Du, "Những kỷ niệm quê hương" của Ngô Hoàng Dương, "Lý hoài nam" của Ngô Hoàng Quân... Một số bản thu âm trong đó được trích ra từ chương trình hoà nhạc "Điều còn mãi" mới diễn ra vào ngày 2/9/2009. Bản thu âm của những bản nhạc này cũng như một số tác phẩm khí nhạc khác của Việt Nam, bạn có thể tìm thấy đường link để download ở đây.

Ở hải ngoại thì với chủ đề này, không thể không nhắc tới đĩa "Memories" của nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Cách đây khoảng vài năm thì tôi được biết đến "Symphony Vietnam 1975" của ông. Bản giao hưởng nói về hành trình vượt sóng của các thuyền nhân Việt Nam sau 30/4/1975, cũng như cuộc sống và nỗi nhớ quê hương của họ nơi đất khách quê người. Gần đây thì ông còn cho ra mắt 2 đĩa nhạc khác là "Souvenir" và "Lullaby". Rất tiếc vì những lý do ngoài nghệ thuật mà những đĩa nhạc này không được biết đến rộng rãi ở Việt Nam.

Có một điều khá đặc biệt là những nhạc sĩ được đào tạo chính quy về sáng tạc khí nhạc như Phú Quang, Đặng Hữu Phúc hay Trọng Đài lại nổi tiếng với ca khúc của họ hơn là với các tác phẩm sở trường. Ít người biến đến Phú Quang với "Tình yêu của biển", "Niềm tin", "Khát vọng" hay những bản nhạc rất hay mà ông viết cho phim như bản nhạc "Bao giờ cho đến tháng 10"... Người ta cũng biết đến một Đặng Hữu Phúc với "Trăng chiều", "Ru con mùa đông" nhiều hơn là một Đặng Hữu Phúc với overture "Ngày hội". Rồi Trọng Đài của "Hà Nội đêm trở gió", "Mùa lá rụng", "Đất và người"... cũng nổi tiếng hơn Trọng Đài của "Giai điệu đồng quê"...